Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

ĐIỀU TRỊ NẤM DA ĐẦU BẰNG ĐÔNG Y CÓ HIỆU QUẢ

Nấm da đầu là một dạng viêm nhiễm dưới chân tóc, do nấm là “ thủ phạm” chính. Nấm da đầu biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các vết loét, thành các mảng tròn rộng. Hay xuất hiện với những mảng màu trắng, đóng thành vảy trên da đầu.


Nấm da đầu lan rộng bằng cách lây lan trực tiếp qua các tế bào trên da đầu, hay gián tiếp do việc dùng chung mũ, lược, dây buộc tóc với người mắc bệnh. Nấm da đầu hiếm có trường hợp lây từ chó mèo sang người.
Nấm da đầu là nguyên nhân dẫn tới hói đầu, rụng nhiều tóc, bong vảy, loét và chảy mủ. Kèm theo đó là cảm giác ngứa ngáy, khó chịu và có mùi lạ trên da đầu.
Nếu không điều trị sớm, nấm sẽ lan rộng trên da đầu và tồn tại trong vòng nhiều tháng.
Thuốc uống thường dùng Tiêu phong tán gia giảm: Kinh giới, Phòng phong, Ngưu bàng tử, Thiền thối, Ngân hoa, Liên kiều, Hoàng cầm, Hoàng bá, Đơn bì, Sanh địa, Đương qui v.v…
Bạn cần được các thầy thuốc chẩn trị kinh nghiệm, gia giảm vị thuốc theo tình hình bệnh cụ thể, hiệu quả càng cao.

Thuốc dùng ngoài: 
Bạn có thể dùng bài thuốc sau gội đầu: Xà xàng tử 50g , Khổ sâm căn 50g , Khô phàn 10g, Hoàng bá 12g. Nấu nước lọc bỏ bã gội đầu 1 ngày / 1 lần.

Ngoài ra bạn cần chú ý vệ sinh thân thể; gội hoặc tắm bằng loại dầu thích hợp, không gây dị ứng. Không ăn thức ăn dễ gây dị ứng như gà, bò, vịt, hải sản, rượu bia.

RỤNG TÓC Ở TRẺ CÓ PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY NẤM DA ĐẦU

Theo BS Võ Ngọc Thanh, BV Nhi đồng 1 TP HCM, nấm tóc là một bệnh lý thường gặp ở trẻ em, dễ gây thành dịch trong trường học, nhà trẻ.

Phân biệt các loại nấm

Chị Trà Giang, mẹ bé Trà Mi cho biết, những tuần đầu mới đi học bán trú, về nhà Trà Mi thường kêu ngứa và giơ tay lên đầu gãi. Cứ nghĩ con gái đến lớp nô đùa cùng bạn bè nên chị Giang sai người giúp việc gội đầu cho con. Thời gian gần đây, biểu hiện ngứa đầu của Trà Mi rõ rệt hơn, bé luôn tay gãi sồn sột dù vừa gội xong đầu. Chị Giang kiểm tra thì phát hiện thấy có nhiều vùng da đầu của con gái phủ vẩy trắng xám.

GỘI ĐẦU CŨNG LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY NẤM DA ĐẦU

Nhiều người phải thường xuyên đội mũ bảo hiểm như nhân viên giao hàng, công nhân xây dựng, xe ôm... đã đến gặp bác sĩ da liễu vì mắc các bệnh về da đầu mà nguyên nhân là do không vệ sinh mũ đúng cách.




Anh N.B.P. (ngụ Q.Gò Vấp, TP.HCM) là nhân viên giao hàng cho một siêu thị. Thỉnh thoảng anh thấy ngứa đầu nhưng không để ý vì nghĩ gội đầu sẽ hết.


Bỏ quên “bạn đường”


"Khi đội chung mũ bảo hiểm, chúng ta sẽ bị vi khuẩn lạ tấn công và mắc bệnh"


Bác sĩ Huỳnh Văn Quang

Gần đây da đầu anh P. bắt đầu ngứa nhiều, nổi mẩn đỏ, mưng mủ, tóc rụng từng mảng. Đi khám da liễu, bác sĩ kết luận anh P. bị nấm da đầu nặng. Anh P. rất ngạc nhiên vì ngày nào cũng tắm và gội đầu thường xuyên. Tuy nhiên khi được bác sĩ phân tích, anh P. mới vỡ lẽ dù vệ sinh cơ thể sạch sẽ nhưng anh chẳng bao giờ vệ sinh chiếc mũ bảo hiểm, vật dụng gắn với anh phần lớn thời gian trong ngày. Đó chính là nguyên nhân khiến anh P. bị bệnh nấm da đầu.

BỆNH NẤM DA ĐẦU CÓ LÂY KHÔNG

1.1. Tình hình


Nước ta ở vùng nhiệt đới thích hợp cho bệnh nấm da phát triển, nó đứng hàng thứ hai sau eczema (nhưng trong quân đội bệnh nấm da đứng hàng đầu).


1.2. Giới thiệu vài nét về vi nấm

+ Nấm là một loậi thực vật hạ đẳng, không có diệp lục tố nên không tổng hợp được chất hữu cơ, phải sống nhờ vào chất hữu cơ của sinh vật khác bằng cách hoại sinh hoặc bằng cách sống kỳ sinh vào vật chủ (pazazita).
+ Nấm mọc thành sợi, chia đốt bởi các vách ngăn có lỗ thủng để nguyên sinh chất lưu thông trong lòng sợi nấm. Nhiều sợi chằng chịt tạo thành hệ sợi nấm, khi già hình thành bào tử, thường có hình tròn, 2 vỏ, vỏ ngoài dày, có sức chống đỡ cao với điều kiện ngoại cảnh, nguyên sinh chất cô đặc dự trữ nhiều chất dinh dưỡng, như vậy bào tử chính là cơ quan lây truyền và bảo vệ nòi giống của nấm.

1.3. Phương thức lây truyền

Ngưòi ta bị bệnh nấm do các phương thức sau:
+ Nhiễm bào tử có trong thiên nhiên ở đất cát, không khí, cây cỏ mục nát…)
+ Người bệnh lây sang người lành (ngủ chung, dùng chung đồ), đây là véc tơ chính.
+ Súc vật (chó, mèo) bị bệnh lây cho người.


1.4. Điều kiện thuận lợi để mắc bệnh nấm


+ Nấm dễ phát triển ở pH 6,9-7,2 hơi kiềm do đó người ta hay bị bệnh nấm ở da ở nếp kẽ.
+ da bị xây sát, da khô, rối loạn cấu tạo lớp sừng.
+ Nhiệt độ 27-30oC
+ Vệ sinh thiếu sót, mặc áo lót quần chật.
+ Rối loạn nội tiết (candida), suy giảm miễn dịch, dùng kháng sinh lâu ngày, dùng thuốc ức chế miễn dịch.


1.5. Miễn dịch trong bệnh nấm da


+ Có thể địa dễ “bắt nấm” (liên quan yếu tố mồ hôi, tuyến bã, cấu tạo lớp sừng…)
+ Có miễn dịch nhưng tính kháng nguyên thấp và không đặc hiệu. Nên việc dùng kháng nguyên để chẩn đoán và phòng bệnh nấm da chưa có kết quả cao.


1.6. Cơ cấu bệnh nấm da


Theo Nguyễn Cảnh Cầu (1994), khám 5663 quân nhân có 2634 người bị bệnh ngoài da (chiếm 46,51%). Trong đó cơ cấu bệnh như sau:
+ Bệnh nấm da chiếm 37,31%.
+ Bệnh lang ben chiếm 14,12%.
+ Ghẻ: 13,17%.
+ Viêm da liên cầu 11,84%. Ecema 3,15%.
+ Các bệnh ngoài da khác 15, 86%.


1.7. Phân loại bệnh


Dựa vào tính chất và đặc điểm của nấm gây bệnh chia thành các loại sau:
- Nấm chỉ gây nhiễm lớp sừng (Keratomycoses)
+ Nấm lang ben.
+ Nấm vảy rồng.
+ Trứng tóc.
- Nấm da (Dermatomycoses).
+ Epidermophytie.
+ Trichophytie.
+ Microsporie.
- Các bệnh gây nên do nấm Candida.
- Các bệnh nấm hệ thống: gây tổn thương da,tổ chức dưới da, phủ tạng.


2. Một số bệnh nấm da thông thường


2.1. Nấm hắc lào


Gồm nấm bẹn, nấm da thường, (trừ nấm tóc, nấm kẽ, nấm móng). Bệnh thường bị vào mùa hè.
- Căn nguyên: gây nên do Epidermophyton, Trichophyton hoặc Microsporum.
- Vị trí: thường xảy ra ở các nếp kẽ lớn, thường ở nếp bẹn 2 bên, kẽ mông,thắt lưng, nách, nếp vú phụ nữ, thân mình, các chi, đôi khi xuất hiện ở cổ gáy, mặt.
- Tổn thương cơ bản: ban đầu khi nhiễm nấm trên da xuất hiện đám đỏ hình tròn như đồng xu đường kính 1-2 cm sau lan to ra, về sau các đám tổn thương liên kết thành mảng lớn bằng lòng bàn tay hay to hơn nữa, có hình đa cung.
- Tính chất: đám đỏ có bờ viền ranh giới rõ, bờ gồ cao trên mặt da, bờ có một số mụn nước nhỏ li ti, giữa đám tổn thương có xu hướng lành, hơi bong vảy da. Tổn thương phát triẻn li tam dần ra ngoại vi.
- Triệu chứng cơ năng: ngứa, đặc biệt khi nóng, ra mồ hôi thì rất ngứa khó chịu.
-Tiến triển: lành tính nhưng nếu không điều trị triệt để dễ trở thành nấm da mạn tính hay tái phát.
- Các thể lâm sàng:
+ Nấm da nhiễm khuẩn: do bệnh nhân gãi, tổn thương bị trợt dẫn đến nhiễm khuẩn phụ, xuất hiện một số mụn mủ trên đám tổn thương nấm.
+ Nấm da viêm da, eczema hoá: do bệnh nhân chà xát, gãi, hoặc bôi thuốc mạnh (axit, pin đèn, kiến khoang…) làm tổn thương trợt, rớm dịch, chảydịch, viêm lan toả, nề…
+ Nấm da mạn tính: bề mặt tổn thương thẫm màu, giới hạn tổn thương kém rõ rệt, chẩn đoán khó, có khi xét nghiệm nấm âm tính.
- Chẩn đoán cận lâm sàng:
Cần cạo vảy da từ tổn thương để xét nghiệm soi tìm sợi nấm hoặc đem nuôi cấy bệnh phẩm để xác định loài nấm.
- Chẩn đoán phân biệt: cần chẩn đoán phân biệt một số bệnh da sau:
+ Phong củ: vị trí hở, giới hạn rõ nhưng bờ là củ nhỏ, mất cảm giác, xét nghiêm nấm (-)
+ Vảy phấn hồng Gibert 1/2 trên, đám mẹ, đám con, đám có giới hạn, viền, vảy mỏng ở rìa đám.
+ Vảy nến: cộm đỏ, giới hạn rõ, nhiều vảy trắng + Nấm da mạn với eczema mạn cần chẩn đoấn phân biệt


3. Điều trị


3.1. Nguyên tắc


Phát hiện sớm, điều trị kịp thời để tránh lây lan trong đơn vị rồi mới điều trị.
Điều trị phải bôi đúng phác đồ, đủ thời gian, liên tục.
Điều trị nấm da 3-4 tuần, nấm móng 3-6 tháng.
- Tránh cạo da trước khi bôi thuốc, nếu không dẫn đến dị ứng và nhiễm khuẩn phụ.
- khi nấm lây truyền trong tập thể thì phải điều trị hàng loạt, điều trị đột kích
- Bôi thuốc đúng nồng dộ thích hợp.
- Kết hợp biện pháp VSPB, giặt luộc quần áo phơi nắng, lộn trái khi phơi.
-Tránh bôi các thuốc hại da như acid, pin đèn, kiến khoang, tránh thói quen mặc quần áo lót chặt, và không nên dùng đồ sợi nhân tạo.
- Điều trị bôi: Cồn BSI 1-3% hoặc cồn ASA 1-3% kết hợp với mỡ benzosali.
Đông y: dùng cồn là muồng trâu, lá chút chít, rễ cây bạch hạc 30- 50% điều trị nấm hắc lào có tác dụng.


3.2. Nấm kẽ chân


- Vị trí bệnh thường thấy xuất hiện ở kẽ ngón đặc biệt hay gặp ở kẽ ngón chân.
- Căn nguyên: do các loài Epidermophyton, Trichophyton gây nên. Bệnh hay gặp ở người lội nước, đi giầy tất bí hơi (nấu ăn, công nhân cầu phà, công binh hành quân dã ngoại, vận động viên bơi lội).
- Triệu chứng lâm sàng: tổn thương bắt đầu ở giữa kẽ ngón 3-4, (hay gặp nhất ở một số người có cấu tạo giải phẫu ngón 3-4 sít nhau) rồi dần dần lan sang kẽ ngón khác. Tổn thương ban đầu bợt trắng hơi bong vảy, nổi một số mụn nước, ngứa nhiều, gãi trợt da, có nền đỏ, có khi viêm nề, sưng tấy do nhiễm khuẩn thứ phát, khi đó bệnh nhân có thể sốt, hạch bẹn sưng. Nấm có thể lan lên mu bàn chân, xuống mặt dưới bàn chân, đoi khi có mụn nước sâu dạng tổ dỉa ở lòng bàn chân (dị ứng thứ phát).
Trường hợp do loài nấm Trichophyton thì tổn thương thường đỏ, róc da ở gót chân, rìa bàn chân, các kẽ chân, và có khi có mụn nước sâu hoặc có tổn thương ở móng, móng sẽ mủn trắng vàng…
Cần chú ý chẩn đoán phân biệt với các bệnh da khác: á sừng bàn chân, tổ đỉa thể khô, eczema tiếp xúc…


3.3. Nấm lang ben: (Pityriasis versicolor, Malassezia furfure)


- Căn nguyên: bệnh do nấm men pityrosporum ovale gây nên. Thường gặp ở người trẻ, thanh thiếu niên. Tổn thương thường bị ở 1/2 người phía trên như ở cổ, vai, ngực, lưng, cánh tay, có khi lan xuống đùi. Tổn thương ban đầu là các chấm, vết hình tròn đường kính 1-2 mm trông giống như bèo tấm, ăn khớp với lỗ chân lông, thường có màu trắng, hồng (nhất là khi đi nắng khi ra mồ hôi thì màu thường đậm hơn, đôi khi có màu nâu. Các thương tổn liên kết với nhau tạo thành các đám có hình vằn vèo, hình bản đồ, giới hạn rõ, khi cạo bong ít vảy cám (dấu hệu vỏ bào).
- Triệu chứng cơ năng: ngứa, nhất là khi nóng ra mồ hôi hay đi nắng về, ngứa râm ran.
- Tiến triển: hay tái phát do bào tử còn sót lại trong nang lông,ít lây lan.
- Cận lâm sàng: Để chẩn đoán xác định cần cạo vảy da xét nghiệm tìm đoạn sợi nấm hay tế bào nấm men.
- Chẩn đoán phân biệt: cần chẩn đoán phân biệt nấm lang ben với các bệnh da khác như: bạch biến, á sừng liên cầu dạng vảy phấn,vảy phấn hồng Gibert hay erythrasma


3.4. Nấm vẩy rồng


Bệnh Tokelau


- Căn nguyên: do nấm Trichophyton concentricum hay gặp ở miền núi như ở tây nguyên, Trường Sơn
- Triệu chứng lâm sàng: khi nhiễm nấm xuất hiện nhiều vảy da, vảy bám trên nền da bình thường, tổn thương da không viêm, không có mụn nước. Đám da tổn thương có hình tròn đồng tâm, xếp lên nhau như ngói lợp, vảy da mỏng như vỏ khoai tây, một bờ bám vào da, một bờ tự do bay lất phất, tổn thương thường xuất hiện ở lưng, ngực, bụng, cánh tay.
- Triệu chứng cơ năng: ngứa nhiều làm mất ngủ dẫn đến suy nhược thần kinh.
- Tiến triển: không bao giờ tự khỏi, mang tính địa phương, dễ lây lan trong gia đình, cần phải điều trị kịp thời.
- Chẩn đoán cận lâm sàng:cần xét nghiêm vảy da tìm sợi nấm
- Chẩn đoán phân biệt: cần chẩn doán phân biệt với bệnh da vảy cá.
Điều trị: tắm nước xà phòng cho bở vảy bôi cồn BSI 2% hoặc cồn ASA kết hợp bôi mỡ benzosali và uống Griseofulvin 0,25%x4 viên/ngày x 1 tháng, có thể uống Nizoral hoặc Sporal.


3.5. Nấm móng (Onychomycosis)


- Căn nguyên: thường do các loài trichophyton hoặc microsporum gây nên.
- Vị trí: thường xuất hiện ở móng tay và móng chân.
- Triệu chứng lâm sàng: bị một móng sau lan dần ra các móng khác (hàng tháng). Thường bị bắt đầu ở bờ tự do của móng hoặc ở gốc móng ra, khi có đám nấm ở mu bàn tay lan xuống. Tổn thương ban đầu thường có điểm trắng, móng mất độ bóng, điểm trắng đục hoặc hơi vàng to dần, móng trắng mủn hoặc màu vàng mủn ra như ruột sậy. Móng dần dần bị ăn vẹt, xù xì biến dạng, đôi khi tách khỏi nền móng.
- Chẩn đoán cận lâm sàng: cần cạo vảy móng đem soi tìm sợi nấm hay bào tử đốt.
- Chẩn đoán phân biệt: cần phân biệt với bệnh vảy nến móng, các móng cùng bị một lúc và trên da cũng có tổn thương, vảy nến móng xét nghiệm nấm âm tính. Các bệnh móng khác: viêm quanh móng do vi khuẩn, hoặc bệnh móng do nấm men Candida ( bệnh này thường gây viêm ở quanh chân móng, đôi khi có dịch mủ).
Điều trị bảo tồn: khi tổn thương mới ít móng, vẹt ít (1/3 móng) thì tiến hành như sau: Ngâm móng vào nước ấm 40- 50oC, cạo gọt phần mủn đến khi đau rớm máu thì thôi sau đó chấm cồn iốt 10 %, mỡ arievich, hoặc bôi kem Nizoral kết hợp với uống thuốc chống nấm như gricin, sporal. Khi toàn bộ móng nhiễm nấm thì bóc móng bằng phẫu thuật (nhanh gọn nhưng đau, chảy máu, tai biến do phẫu thuật có thể xảy ra, sót sơi nấm lại tái phát) đắp dung dịch ureplast trước 3 ngày rồi bóc không đau, không chảy máu, kết hợp bôi thuốc tại chỗ và uống thuốc chống nấm.
+ Uống thuốc: Tháng I Gricin 4 viên/ngày.
Tháng II cách nhật.
Tháng II: tuần 2 lần
Tổng liều 220 viên.


+ Điều trị nấm móng bằng Spozal Ngày uống 2 viên Spozal 0,1 g x 2 lần/ngày, uống liên tục 7 ngày sau nghỉ 3 tuần uống lặp lại như trên. Nấm móng tay uống 2-3 đợt, nấm móng chân uống 3 hoặc 4 đợt.
Chú ý: không nên dùng thuốc chống nấm với người có bệnh gan, thận, phụ nữ mang thai và trẻ em dưới 6 tuổi.


2.6 Nấm tóc


2.6.1. Bệnh trứng tóc (hay còn gọi là bệnh tóc hột)


Căn nguyên do các loài nấm piedra alba gây trứng tóc trắng, và piedra nigra gây trứng tóc đen. Ở Việt Nam thường gặp loại piedra nigra chủ yếu gây tổn thương ở tóc. Điều kiện thuận lợi để nấm gây bệnh khi để tóc ẩm, như gội đầu ban dêm, đội mũ ngay sau khi gội đầu, hay gặp ở nữ nhiều hơn nam, lây truyền khi dùng chung mũ lược. Khi nhiễm nấm thì dọc theo thân tóc có các hạt nhỏ bằng hạt vừng màu đen bám chặt vào thân tóc. Các hạt nhỏ chính là sợi nấm và bào tử đốt tạo nên rất cứng và chắc làm gãy thân tóc. Nấm lan từ sợi tóc này sang sợi tóc khác.
- Triệu chứng cơ năng: không ngứa nhưng làm người bệnh khó chịu.
- Chẩn đoán cận lâm sàng: cho sợi tóc vào lam kính có KOH 20% soi kính hiển vi tìm bào tử nấm và sợi nấm.
- Điều trị:
+ Trứng tóc: gội đầu xà phòng nước ấm,chải mỡ benzosali, hoặc gội đầu xà phòng Sastid, Nizorral hay Kelog.


2.6.2. Nấm tóc do microsporum hoặc trichophyton


Trên da đầu có các đám đỏ, hình tròn, hình ô van, hay hình rắn bò bong vảy ranh giới rõ, tóc bị phạt gãy cách da đầu 1 vài mm, có khi chỉ còn chấm đen, chân tóc có thể có bự trắng như nhúng trong bột, hay còn gọi chân tóc “đi bít tất” vẩy da thường có màu trắng hay màu trắng xám. Triệu chứng cơ năng: rất ngứa. Bệnh có thể lây từ chó mèo sang người. Thể thâm nhiễm mưng mủ: bị vùng đầu, có các ổ mủ ở nang lông (áp xe nang lông) liên kết thành 1-2 đám viêm mạnh, giới hạn rõ, trên mặt đầy vảy mủ, cạy các vảy ra có các hố lõm có mủ màu vàng, mủ rất hôi, trông giống tổ ong, tóc bị trụi (Kerion de celse).
Chẩn đoán cận lâm sàng: xét nghiệm cạo vảy da hoặc nhỏ chân tóc đem soi tìm sợi nấm.
Chẩn doán phân biệt: trên lâm sàng cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau:
- Rụng tóc pelade.
- Rụng tóc da dầu.
- Viêm chân tóc.
- Chốc do liên cầu.
+ Điều trị: nấm tóc do Trichophyton, Microsporum thì nhổ sợi tóc bệnh, chấm cồn iốt 2%, bôi thuốc màu và uống Grisefoulvin 1g/ngày x 1 tháng, có thể bôi kem Nizoral, Lamisil,Tróyd hoặc uống Nizoral hay Sporal.


4. Điều trị và phòng bệnh nấm da


4.1. Nguyên tắc


Phát hiện sớm, điều trị kịp thời để tránh lây lan trong đơn vị rồi mới điều trị. Điều trị phải bôi đúng phác đồ, đủ thời gian, liên tục. Điều trị nấm da 3-4 tuần, nấm móng 3-6 tháng.
-Tránh cạo da trước khi bôi thuốc, nếu không dẫn đến dị ứng và nhiễm khuẩn phụ.
- khi nấm lây truyền trong tập thể thì phải điều trị hàng loạt, điều trị đột kích
- Bôi thuốc đúng nồng dộ thích hợp.
- Kết hợp biện pháp VSPB, giặt luộc quần áo phơi nắng, lộn trái khi phơi.
- Tránh bôi các thuốc hại da như acid, pin đèn, kiến khoang, tránh thói quen mặc quần áo lót chặt, và không nên dùng đồ sợi nhân tạo.


4.2. Điều trị cụ thể


Phác dồ điều trị cục quân y:
+ Tuần 1: cồn BSI 2% bôi sáng, chiều, một lần
+ Tuần 2: sáng bôi BSI 2%, chiều bôi mỡ benzosali
+ Tuần 3: mỡ benzosali bôi ngày một lần cho đến khi khỏi, mịn da.
Trường hợp nấm diện rộng, mắc nhiều năm, tái phát nhiều lần, hay do Trichophyton rubrum thì cho uống kháng sinh chống nấm: Griseofulvin 0,25g x 4 viên/ngày x 1 tháng, kết hợp với bôi thuốc như trên.


4.3. Phòng bệnh


- Phát hiện sớm, điều trị kịp thời để tránh lây lan trong đơn vị nhiều rồi mới điều trị.


- Tuyên truyền VSPB, nhắc nhở nếp sống vệ sinh, giữ khô các nếp kẽ, tránh mặc quần áo lót chặt…bằng ni lon, cần cắt móng móng tay, cắt tóc ngắn, giữ khô các nếp kẽ sau khi tắm. Rắc bột phòng nấm, tẩm chất chống nấm vào quần áo….

PHƯƠNG PHÁP TỐI ƯU NẤM DA ĐÀU


Bệnh nấm da là do các loại nấm kí sinh trên da gây ra. Bệnh có thể gặp ở mọi đối tượng và sẽ sinh sôi nhanh nhất trong điều kiện môi trường ẩm ướt hoặc vùng cơ thể ra nhiều mồ hôi.
Từ đầu năm đến giờ, đây là lần thứ 4 chị Hoa (Cầu Giấy, Hà Nội) phải đến viện khám vì bị nấm ngứa. Bình thường, chị vốn rất "lành da" và rất ít khi bị viêm hay nổi mụn trên da. Thế nhưng cứ hễ trời mưa to, phải lội bì bõm trong các tuyến phố mỗi khi đi làm là chị lại bị ngứa, trên da chân xuất hiện các vết hình tròn hoặc bầu dục, kích thước từ nhỏ li ti đến vài centimet. 

Những ngày đầu mới bị, vì nghĩ rằng bị ngứa thông thường nên chị nghĩ cứ uống hoặc bôi thuốc trị ngứa là khỏi. Sẵn có tuýp thuốc ngứa ở nhà, chị bôi liền 2-3 hôm thì thấy bệnh đỡ và khoảng 1 tuần sau thì khỏi. Nhưng là sau đó cứ mỗi khi trời mưa, dù không phải lội nước chị Hoa vẫn bị ngứa. Mỗi lần ngứa chị lại dùng loại thuốc trước đó để bôi nhưng thời gian khỏi bệnh thì lần sau lại lâu hơn những lần trước. 


Điều kiện môi trường ẩm ướt khiến bệnh nấm da phát triển mạnh.

Đến lần này, khi thấy vết ngứa ngày càng lan rộng, sưng đỏ và ngứa hơn, chị quyết định đi khám thì mới biết mình bị nấm kẽ và phải dùng thuốc đặc trị chứ không phải chỉ cần dùng thuốc trị ngứa đơn thuần là được. Loại thuốc chị dùng chỉ có tác dụng trị bệnh ngứa da thông thường chứ không thể chữa triệt để bệnh do vi nấm gây ra. Đó chính là lý do tại sao chị thường xuyên bị tái phát bệnh và lần sau lâu khỏi hơn lần trước.


PGS : Nguyễn Lương Phúc - Bệnh Viện TW

NHỮNG LƯU Ý TROGN ĐIỀU TRỊ NẤM ĐẦU

Nấm da đầu không giống với các loại nấm trên da khác. Tuy nhiên, nếu kiên trì dùng thuốc đều có thể chữa khỏi bệnh. Việc điều trị bước đầu sẽ gặp phải khó khăn, là do sự viêm nhiễm xảy ra dưới chân tóc, nên khi dùng các loại thuốc bôi khó có thể “tiếp cận” với khu vực này.

Grisefulvin là loại thuốc chuyên dùng để điều trị nấm da đầu. Thuốc có hai dạng, dung dịch và viên nén. Thuốc dùng từ 1 đến 2 lần một ngày theo chỉ dẫn của bác sĩ. Nên dùng thuốc ít nhất 4 tuần liên tục.


Lưu ý
- Nấm da đầu rất dễ lây lan, nên cần lưu ý để phòng tránh cho các thành viên trong gia đình. Khi đã bị mắc nấm da đầu, hãy chia tóc thành từng phần riêng biệt để tránh sự lây lan.

- Có thể dùng kết hợp các loại dầu gội như Selsun, Exsel để hạn chế sự lây lan. Nên dùng loại dầu gội này tối thiểu 2 lần/ tuần.

- Nếu 1 trong số các thành viên trong gia đình có triệu chứng của bệnh cần khám bác sĩ ngay để điều trị kịp thời.

- Việc cắt tóc hay cạo phần da đầu đó đi là không cần thiết.

- Luôn giữ tóc khô, sạch.

- Đôi khi có thể xuất hiện phát ban trong thời gian ngắn sau khi điều trị, bạn nên đến bác sĩ để kiểm tra lại. Đó có thể là dấu hiệu của sự dị ứng giữa da đầu và thuốc.

- Khi các vết loét đã lành, bạn vẫn phải tiếp tục điều trị đến hết đợt thuốc để “ức chế” sự hoạt động của các bào tử nấm.

NẤM DA ĐẦU LÀ GÌ


Nấm da đầu không chỉ gây cảm giác ngứa ngáy khó chịu, mà còn làm mất đi vẻ tự tin do từng "nắm” tóc rụng. “Tiêu diệt” loại nấm này không đơn giản, đòi hỏi phải kiên trì và điều trị đúng cách.

Hãy tuân thủ theo các nguyên tắc dưới đây để loại trừ tận gốc nấm da đầu:


Thế nào là nấm da đầu?

Nấm da đầu (bệnh ecpet mảng tròn), là một dạng viêm nhiễm dưới chân tóc, do nấm là “ thủ phạm” chính. Nấm da đầu biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các vết loét, thành các mảng tròn rộng. Hay xuất hiện với những mảng màu trắng, đóng thành vảy trên da đầu.

Nhìn chung bằng các loại dầu gội, bạn có thể hy vọng loại trừ được các vảy bám trên da đầu, nhưng không thể “trị” được các tế bào nấm.

Nấm da đầu lan rộng bằng cách lây lan trực tiếp qua các tế bào trên da đầu, hay gián tiếp do việc dùng chung mũ, lược, dây buộc tóc với người mắc bệnh. Nấm da đầu hiếm có trường hợp lây từ chó mèo sang người.

Nấm da đầu là nguyên nhân dẫn tới hói đầu, rụng nhiều tóc, bong vảy, loét và chảy mủ. Kèm theo đó là cảm giác ngứa ngáy, khó chịu và có mùi lạ trên da đầu.

Nếu không điều trị sớm, nấm sẽ lan rộng trên da đầu và tồn tại trong vòng nhiều tháng.

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NẤM HIỆU QUẢ

Cách trị nấm da đầu như thế nào?


Nhiều người khi bị nấm đã không chữa trị dứt điểm để bệnh tái phát, kéo dài dai dẳng. Nhiều vùng nấm bị sừng hóa, để lại sẹo gây mất tóc vĩnh viễn. Greenmax Hair Clinic xin chia sẻcách trị nấm da đầu hiệu quả để bạn đọc tham khảo.

Cách trị nấm da đầu hiệu quả giúp loại bỏ sự ngứa ngáy và khó chịu

Cách trị nấm da đầu trước đây thường là bôi thuốc mỡ bên ngoài và nhổ lông tóc. Người bị nấm da đầu diện tích nhỏ có thể dùng nhíp nhổ ra sợi tóc đã bị bệnh bên trong, mỗi tuần nhổ một lần liên tục 3-4 lần. Cách này hơi rắc rối, nhằm tránh làm sót lại các sợi lông tóc bị bệnh nào có thể gây tái phát bệnh, do đó cần phải nhổ luôn cả những sợi lông tóc xung quanh chỗ da bị bệnh, như thế sẽ rất đau.

Uống loại thuốc có chứa axit axetic làm rụng lông tóc thì sẽ không bị đau, loại thuốc có chất này sẽ làm cho lông tóc bị bệnh và lông tóc không bị bệnh đều rụng hoàn toàn, là loại thuốc mang độc tính, khi dùng phải nắm rõ liều lượng. Hiện nay người ta ngăn cấm sử dụng loại thuốc này.

Cách nhổ lông bằng chiếu X-quang thì phải có thiết bị chuyên ngành, và cũng có thể xảy ra các tác dụng phụ. Những phương pháp này không được coi là những phương pháp đầu tiên và chúng cũng đã bị loại trừ và không được áp dụng.

Bệnh nấm da đầu làm sừng hóa da đầu để lại sẹo và rụng tóc

Cách trị nấm da đầu đạt hiệu quả rất xuất sắc ngày nay bao gồm năm dạng: uống, bôi, cạo, gội, làm tan.

Uống thuốc: Là loại kháng sinh

Bôi thuốc: Là loại mỡ kháng sinh bôi ngoài da, có thể chọn các loại cao bôi ngoài da và thuốc kem dùng cho chữa trị bệnh nấm.

Cạo: Khi chữa trị mỗi tuần cạo 1 lần, liên tục 4 lần. Mục đích là làm giảm lượng lông tóc mang bệnh, nhưng đối với những bé gái phải lưu ý đến tình trạng sức khỏe của mỗi em để có quyết định cạo hay không.

Gội: Mỗi ngày gội đầu xà phòng với nước ấm 1 lần, liên tục trong 4 tuần.

Làm tan: Làm tan chất độc. Vì cách tắm nắng, gội đầu thông thường không thể diệt sạch được hết vi nấm gây bệnh, do đó các thứ đồ như mũ, khăn mặt, khăn trải gối, lược chải đầu đều phải được luộc nhằm diệt nấm, mỗi tuần 1 lần. Tất cả 4 lần, phải thiêu hủy những sợi tóc bị rụng hoặc bị cạo, cắt bỏ. Tất cả sẽ điều trị rụng tóc cho bạn. Nếu chó, mèo mắc bệnh cũng phải có ngay biện pháp xử lý.

Nấm da đầu là bệnh dễ lây khi dùng chung mũ, nón, lược...
Cách trị nấm da đầu tận gốc đối với những bệnh nhân mắc bệnh nấm da đầu ở nhà trẻ, trường học và gia đình cần phải tiến hành cách ly, đây là then chốt nhằm ngăn chặn sự lan truyền sang người khác. Cách ly môi trường sống và cả những vật dụng sinh hoạt hằng ngày. Sau khi đã phát hiện, người bị nấm da đầu cần phải tiến hành các biện pháp nhằm cách ly tập thể đối với một nhóm người chưa mắc bệnh mà đã từng tiếp xúc với người mắc bệnh (gội đâu định kỳ, rửa ráy, thay quần áo và các đồ dùng hằng ngày). Mỗi tuần phải đi khám, xét nghiệm xem da đầu thế nào, liên tục 4 tuần để phát hiện sớm người mắc. Đây cũng là một biện pháp trọng yếu để ngăn chặn sự lây truyền. Không nên chỉ chữa trị tại nhà mà quên công tác dự phòng.


Trích : Báo dantri.com.vn

NẤM DA ĐẦU VÀO MÙA HÈ

Việt Nam là một nước khí hậu nhiệt đới, nóng, ẩm nên rất thuận lợi cho các chủng nấm phát triển. Các bệnh nấm ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Nấm gây các bệnh ở da, tóc, móng và niêm mạc được gọi là bệnh nấm nông. Nấm gây bệnh ở tóc chủ yếu do hai loại nấm sợi là Trichophyton và Microsporum. Các loại nấm tóc gồm nhiều loại khác nhau và có tỷ lệ mắc khác nhau tuỳ từng vùng. Những người lao động vất vả đầu tóc luôn đẫm mồ hôi, bụi bặm mà ít được tắm gội hoặc người tiếp xúc nhiều với gia súc thường hay bị nấm tóc hơn.

Bệnh nấm tóc nếu không đuợc điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và là nguồn lây nhiễm trong cộng đồng.

Các thể lâm sàng và chẩn đoán bệnh nấm tóc

Các loại nấm nông có thể gây bệnh ở da đầu, chân tóc làm tóc bị khô, gãy hoặc xén tóc. Các hình thái lâm sàng sau hay gặp:

Bệnh Favus

Căn nguyên: do Trichophyton schonleini, Trichophyton quynckeanum, Trichophyton gypseum.

Triệu chứng lâm sàng: trên da đầu có các đám vảy tiết nhỏ màu vàng và có mùi hôi đặc biệt (mùi chuột chù). Nếu cạy vảy sẽ để lại một hố lõm. Thương tổn khu trú ngay dưới chân tóc. Sợi tóc trong vùng thương tổn không rụng nhưng khô, mất vẻ bóng nhoáng.

Xét nghiệm thấy bào tử nấm trong lòng sợi tóc.


Nấm tóc gây thâm nhiễm và mưng mủ (Kerion de celse - Nấm tổ ong)

Căn nguyên: do Trichophyton canis, Trichophyton verrucosum, Microsporum mentagrophytes.

Triệu chứng lâm sàng: bệnh hay gặp ở trẻ em nông thôn có tiếp xúc với các loại gia súc, chủ yếu là mèo. Thương tổn cơ bản đầu tiên là các mụn mủ ở một số chân tóc, sau đó lan dần ra xung quanh, tạo thành một mảng lớn nổi cao, thâm nhiễm. Bề mặt thương tổn ghồ ghề, có nhiều vảy. Nếu cạy vảy thấy lỗ chỗ như tổ ong chứa nhiều mủ. Tại đám thương tổn tóc bị rụng.

Xét nghiệm: thấy bào tử nấm thành chuỗi bao quanh sợi tóc.

Bệnh nấm làm trụi tóc

Căn nguyên: Trichophyton violaceum, Trichophyton tonsurarans, Trichophyton sondaneuse.

Triệu chứng lâm sàng: bệnh có thể gặp ở cả trẻ em và người lớn. Thương tổn cơ bản là các đám bong vảy ở da đầu.Tóc trong vùng bị bệnh gãy sát da đầu, nhìn kỹ thấy các chấm đen. Có thể các mảng bong vảy liên kết tạo thành mảng lớn tóc gãy không đều. không thấy ngứa.

Xét nghiệm thấy các bào tử nấm xếp thành chuỗi trong lòng sợi tóc.



Nấm xén tóc

Căn nguyên do Microsporum andouini, Microsporum langeroni, Microsporum canis.

Triệu chứng lâm sàng: bệnh hay gặp ở trẻ em và lây truyền do dùng chung mũ, nón, lược. Thương tổn là các mảng da bong vảy ở đầu, hình tròn hay bầu dục. Tóc trong vùng đó bị xén cách da đầu khoảng 5 - 8 cm. Chân tóc còn lại được phủ một lớp trắng như “ đi bít tất”.

Xét nghiệm thấy các bào tử nấm bao quanh sợi tóc.

Điều trị bệnh nấm tóc

Nấm tóc là bệnh có nhiều nguyên nhân nên cần được điều trị theo đơn của bác sĩ. Bệnh nhân cần hiểu rõ về bệnh tật để dùng thuốc một cách phù hợp, không tự dùng các loại thuốc kháng nấm vì có thể gây ảnh hưởng tới gan, thận.

Các thuốc sử dụng trong điều trị bệnh nấm tóc:

- Thuốc bôi tại chỗ: dung dịch BSI, kem nizoral, kem clotrimazol…Tuy nhiên, các thuốc bôi tại chỗ thường ít tác dụng vì nấm theo sợi tóc ăn xuống sâu.

- Toàn thân: có thể dung một trong các loại thuốc sau đây: griseofulin, itraconazol, ketoconazol.

- Riêng với nấm tổ ong (Kerion de celse): chích rạch mủ, bôi thuốc chống nhiễm khuẩn, phối hợp thuốc chống nấm. Có thể cho kháng sinh chống nấm đường toàn thân.

Phòng bệnh nấm tóc

Không gội quá nhiều, không dùng nước gội có độ tẩy gầu cao, không cào gãi mạnh làm xây xước da đầu. Luôn giữ tóc khô, sạch. Nên xả nhiều nước sau khi gội đầu, làm khô tóc sau khi gội hay đi ngoài trời mưa. Không đội mũ quá chật và ủ quá lâu, sẽ làm cho tóc ẩm, dễ bị bệnh.. Tránh gội đầu quá nhiều và dùng chung khăn, lược, mũ với người khác, đặc biệt là những người tóc có nhiều gàu hoặc các biểu hiện của bệnh nấm tóc.

Khi thấy ngứa và nổi sẩn ở da đầu, cần kịp thời đến khám bệnh ở thầy thuốc chuyên khoa Da liễu. Việc tự ý bôi thuốc không những không có tác dụng mà còn làm bệnh trở nên nặng thêm.


TS :Ngô bảo Khanh _ Viện Gia Liễu Quốc Gia

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

NẤM MÓNG TAY GÂY NGUY HIỂM KHÔNG


Tôi bị nấm móng cách đây 2 năm cách đây 3tháng tôi dùng Itcon thấy khi dùng thì đỡ nh­ưng nay ngừng tôi thấy bị lai.co ng­­­ười khuyên dùng A.S.A liệu có khỏi không.Có dung dịch nào thích hợp hơn không
(Nguyễn Hoài Nam - Hà Nội )

Trả lời: 
Nguyên nhân gây bệnh nấm móng tay:

Do nhiều loại vi nấm gây ra, có thể kể hai nhóm chính là: Nấm sợi tơ (Dermatophytes) và nấm hạt men (Candida). Người bị bệnh này, do tay chân thường xuyên bị ướt tạo điều kiện cho vi nấm phát triển và gây bệnh.

Triệu chứng lâm sàng

- Bề mặt móng bị xù xì, phủ một lớp vảy mịn như cám, có lằn sọc dọc hay ngang. Chỗ bị tổn thương có màu hơi vàng, hay nâu đen.

- Bên dưới móng cũng có thể bị tổn thương và móng bị tróc.

- ít khi cả mười móng tay hoặc mười móng chân đều bị bệnh. Trên từng móng, tổn thương tấn công từ bờ vào và không bị viêm quanh móng (nếu do Dermatophytes) hoặc từ gốc móng đi ra và có viêm quanh móng (nếu do nấm Candida).

- Khi viêm quanh móng sẽ rất đau, sưng đỏ và có mủ.

Ðiều trị

1. Thuốc bôi tại chỗ: Dùng một trong các thuốc bôi sau: kem hoặc pommade Ketoconazol (Nizoral), Canesten, Trosyd, Exoderil, Naftin v.v...

Cách bôi: Sau khi rửa và cạo sạch chỗ tổn thương móng, bôi thuốc lên bề mặt móng và quanh móng, mỗi ngày 2-3 lần, ít nhất trong 3 tháng.

2. Thuốc uống: Có thể dùng: Griséofulvine (chỉ có tác dụng trên nấm sợi tơ), Nizoral, Lamisil,... (có tác dụng trên cả hai loại nấm). Nhưng phải có sự chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ.

Ðể phòng ngừa tái phát, nếu có thể nên thay đổi việc làm hoặc mang bao tay khi làm việc để tránh móng bị ướt.

Tóm lại, nấm móng là một bệnh tuy không nguy hiểm nhưng làm mất vệ sinh, thẩm mỹ và rất khó điều trị. Vì vậy cần phải điều trị sớm và đúng phương pháp. Bạn nên đi khám tại Bệnh viện Da liễu TƯ để được điều trị kịp thời và hiệu quả. Không tự ý sử dụng bất kỳ loại thuốc uống hoặc thuốc bôi nào khi chưa có chỉ định của Bác sĩ!

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

VẨY NẾN CÓ LÂY KHÔNG


Vảy phấn hồng là 1 loại bệnh nằm trong bệnh vảy nến - do rối loạn tự hạn chế, thường được xuất hiện nhiều nhất vào mùa thu và mùa xuân. Bệnh ảnh hưởng không biết đến tâm lý và sức khỏe cho bệnh nhân. Nhiều người rất lo lắng khi được chuẩn đoán bệnh. Khi mà không được giải thích rõ ràng nguyên nhân gây bệnh thì bệnh nhân lại càng muốn biết về bệnh.
Nguyên nhân 
Cho đến nay vẫn chưa xác định rõ, chắc chắn. Có giả thuyết của tác giả cho rằng bệnh có lien quan đến bệnh toàn thân như Lao, Nấm mốc, Côn trùng, nhiễm khuẩn, nhiễm virus,tự nhiễm độc, Nhiều người vẫn cho rằng vai trò của sự nhiễm 1 vài chủng herpes virus như HHV6, HHV7. Mặc dù thế, người ta cũng không cho rằng bệnh có thể truyền nhiễm.



Người bệnh được khuyến cáo đi khám bệnh điều trị, khi có các chiệu trứng đặc biệt sai
- Xuất hiện mảng hồng ban rộng lớn, tróc vẩy ở vùng ngực, lưng, bụng.
- Có nhiều hồng ban xuất hiện tiếp theo khắp ngực, lưng, bụng hay có thể có thêm ở mặt, tứ chi.

Nếu như bênh nhân đã được chuẩn đoán là bị vẩy phần hồng mà sang thương vẫn không khỏi sau 3 tháng, cần phải đến tái khám bác sĩ chuyên khoa Da Liễu để xem lại cách trị vảy nến


Triệu chứng
Bệnh thường bắt đầu với một vết mẩn hình tròn, hoặc bầu dục (oval), xuất hiện trên thân mình, có khi trên tay chân. Vết mẩn đường kính khoảng 2 đến 5 cm, bờ chung quanh đỏ sáng và hơi dày trên mặt da, nhưng vùng bên trong trông lại bằng và ít đỏ hơn. Thành ra, vết mẩn này trông dễ lầm với vết mẩn gọi là “ringworm” (vết mẩn tròn tròn, bên ngoài đậm màu, bên trong màu sáng, trông như chiếc nhẫn) gây do nấm da. (Chúng ta, vết gì trên da, cũng gọi là “lác”, nên khi có người hỏi người viết một vết trên da có phải “lác” không, người viết thường ngập ngừng, biết trả lời sao, vì thú thực, chả hiểu “lác” thực sự dùng để chỉ bệnh gì?). 

Song, chỉ trong vòng 2 đến 10 ngày sau, ta có thể phân biệt bệnh  với bệnh “ringworm” do nấm da. Vì 2 đến 10 ngày sau khi vết mẩn mẹ (mother patch) xuất hiện, bệnh vảy hồng sẽ cho thêm rất nhiều vết mẩn con khác mọc trên thân mình (lưng, ngực, bụng) và trên cổ, trên tay, chân. Riêng ở tay, chân, những vết mẩn con chỉ hay mọc ở phần tay, chân gần mình, tức ở đùi, và phần tay phía trên khuỷu. (Ở trẻ em, có khi ngược lại, các vết mẩn mọc nhiều trên đầu, mặt và tay chân vùng xa mình, ít hơn hoặc không có trong mình, và có thể trông khác với vết mẩn thấy ở người lớn.) Đây là những vết mẩn nhỏ hình bầu dục, có màu hồng, đỏ, hoặc nâu. Có người chỉ bị vài vết, người khác mang đến hàng trăm vết. Đặc biệt chúng mọc đều hai bên thân người, dọc theo các nếp da của ta. Chúng có thể tiếp tục theo nhau mọc thêm ra vài tuần sau đó, nhưng trong vòng 4 đến 12 tuần kể từ khi ta bị vảy hồng đến thăm, lại theo nhau bỏ đi mất, không để lại thẹo sau này.

Biến chứng
- Vẩy phấn hồng có thể gây ngứa nhiều, đặc biệt là khi thân nhiệt bệnh nhân quá nóng

- Các hồng ban có thể khỏi hoàn toàn không để lại dấu vết. 
Tuy nhiên nếu da bệnh nhân sẫm àu tại các vị trí của sang thương mất đi có thể còn lưu lại các đốm nâu.

VẨY NẾN PHẤN HỒNG CÓ KHÓ CHỮA KHÔNG


Nhiều bệnh nhân mắc bệnh vảy phấn hồng khi được chuẩn đoán vẫn chưa biết rõ rệt lém về căn bệnh mình mắc phải. Nên nhiều khi có những người bệnh dieu tri vay nen rất nhanh những cũng có khi nhiều người bệnh điều trị rồi lại mắc phải


Tổn thương tiên phát thường ở cánh, cẳng tay, vùng ngực gần nách và là đám màu hồng hình tròn hay hình oval như hình huy hiệu, có viền vẩy ở xung quanh ở giữa đám thấy có màu nhạt màu có vẻ như da hơi nhăn
Vị trí tổn thương chủ yếu ở nửa người phía trên, Có thể ở mặt, đầu. Tổn thương có tính chất có các “ đám mẹ”, “ đám con”. Đám mẹ thường xuất hiện đầu tiên ở sườn ngực, hoặc vùng gần nách, gần cánh tay. Sau 1,2 tuần xuất hiện nhiều đám con là các đám đỏ nhỏ, sẩn nè kích thước vài mm đến 1 cm, dạng ban mề đay, màu hồng nhẹ hay vàng ngệ, có khi có vảy phủ trên, Trung tâm tổn thương có vẻ như teo lõm, da nhăn màu nhạt hơn. Sau 1 thời gian tổn thương sắp xếp ở vùng ngực thành các đường song song dọc xương sường như hình “ xây Noel”

Tổn thương thông thường ở thân, cổ còn thấy ở cánh tay và đôi khi cả ở hông đùi, cẳng chân và có khi ở mặt, đặc biệt ở trẻ em. Tổn thương ở cánh tay và cẳng chân khoang 6- 12%. Tổn thương ở lòng bàn tay cũng có thể có, có hình ảnh đỏ da bong, vảy có mụn nước nhỏ. Tổn thương ở bán niêm mạc là hiếm nhưng cũng phải chú ý. Tổn thương đỏ da bong vảy hoặc điểm xuất huyết hoặc phỏng nước cũng có gặp, có thể ở âm đạo.
Triệu chứng chung khác có thể quan sát thấy nhưng nhẹ, sẩn ngứa nhẹ, hoặc là có thể do điều trị không đúng. Sốt nhẹ, mệt mỏi, hạch limpho ở nách có thể sưng.
Tổn thương da thông thường biến mất 6 tuần nhưng có thể kéo dài hơn tới 2 -3 tháng. Tổn thương ở phía dưới thì có thể kéo dài hơn. Có thể để lại tang hay giảm sắc tố. Nhưng thông thường không để lại dấu vết gì.
1. 
Khởi phát
 điển hình thường bắt đầu bằng 1 đốm hồng ban rộng lớn, tróc vảy, hơi nhô cao trên bề mặt da. Vị trí thường gặp ở ngực, bụng, lưng – gọi là mảng hồng khởi đầu, Sang thương vẩy phấn hồng thường xếp giống hình vẩy cá và có màu hồng. Nếu bệnh nhân có da sậm màu, sang thương có thể có màu xám, nâu sậm hay màu trắng.

Thương tổn cơ bản là 1 mảng thương tổn độc nhất có hình huy hiệu hay hình bầu dịc, riad mầu hồng giữa nhạt màu hơn và hơi hõm. Trên mặt có vảy phấn thương tổn có đường kính lan rộng từ 2 -6cm.
Triệu chứng kèm theo ngữa, đôi khi bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi. Ngoài ra không có gì đặc biệt
Vị trí: xuất hiện bất cứ nơi nào những thường gặp nhất là ở ngực, lưng và chi
Khoảng 50% bệnh nhân bị vảy phấn hồng cũng có các triệu chứng nhiễm trùng hô hấp trên như: nghẹt mũi, đau cổ họng… trước khi mảng hồng ban khởi đầu của vảy phấn hồng xuất hiện
2. 
Toàn phát:
Sau đó, trong vài ngày đến vài tuần, nhiều đốm hồng ban nhỏ hơn, tróc vảy, xuất hiện tiếp tục ở khắp ngực, lưng, bụng phân bố theo dạng hình cây thông. Sang thương có thể ngứa và hiếm gặp ở vùng mặt hay tứ chi. Sau khi xuất hiện thương tổn đầu tiên vài ngày đến 2 tuần thì thương tổn lan rộng ra khắp người. Tập trung ở thân, ít hơn ở chi không có ở mặt và da đầu.
Có 2 loại lâm sàng với đặc điểm:
- Thương tổn không đặc trưng: Thương tổn lan rộng từ cổ đến chân với hình thaí lầm sang là dát, mảng màu hồng, bờ nham nhở, giới hạn không rõ. Trên mặt có nhiều vảy phấn
- Thương tổn đặc trưng: Thương tổn là những dát, mảng hình tròn hay bầu dục kích thước 1 -3cm có 2 vùng rõ rẹt. Xung quanh rìa mày hồng, gờ cao, có vẩy phấn nhỏ, trung tâm màu vàng nhạt, hơi lõm, da nhăn nheo. Nhiều dát nhỏ liên kết với nhau thành những mảng lớn hình đa cung

BỆNH VẨY NẾN VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Bệnh vẩy nến (vảy nến) chiếm 5% dân số châu Âu, 2% dân số châu Á và châu Phi, xấp xỉ 10% tổng số các bệnh nhân đến khám ở các phòng khám Da liễu. Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý và những hệ lụy của nó. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.

Nguyên nhân
Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết chắc chắn 5 yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:
Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp, 
Nhiễm khuẩn: vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọt người ta phân lập được liên cầu khuẩn ở tổn thương và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm.
Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên.
Thuốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid trị vảy nến
Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau các kích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích lý hóa (bệnh nặng nhẹ theo mùa).
Nhận diện
- Vẩy nến ở da: Trên da có các mảng đỏ ranh giới rõ, phía trên có vẩy dầy màu trắng. Khó xác định hơn nếu thương tổn chỉ có ở đầu do tóc che khuất cho nên cần chú ý: nếu thấy ở đầu tự nhiên thấy gầu nhiều và dầy lên so với trước đây.
- Vẩy nến ở móng: Móng dầy hoặc có nhiều lỗ nhỏ trên bề mặt móng.
- Vẩy nến ở khớp: Các khớp bị biến dạng, bệnh nhân khó vận động.
- Vẩy nến thể mủ: Trên da có các mụn mủ khô và nông.
- Vẩy nến thể đỏ da toàn thân.
Những điều cần tránh
Nhìn vào 5 yếu tố làm nên cơ chế sinh bệnh mà ta phải:
- Tránh căng thẳng (stress)
- Tránh kì cọ và bóc da (hiện tượng Kobner)
- Cẩn thẩn khi dùng thuốc nếu mắc thêm các bệnh về tim mạch.
- Tránh nhiễm khuẩn: Đặc biệt là nhiễm khuẩn tai mũi họng.
- Tránh rượu: Vì rượu làm bệnh nặng lên và tương kị với các thuốc điều trị.
- Nên lạc quan với bệnh tật: do bệnh lành tính và phổ biến, khoa học tiến bộ không ngừng trong việc tìm ra nguyên nhân đích thực của bệnh và hàng năm đều ra đời các thuốc và phương pháp chữa bệnh mới có hiệu quả hơn. Hãy tin tưởng rằng trong tương lai không xa bệnh vẩy nến sẽ có các đột phá mới.
Điều trị
Điều trị tại chỗ
Dùng các loại mỡ, kem, dung dịch với mục đích bong vẩy, tiêu sừng, hạn chế hình thành nhanh chóng vẩy da như:
- Mỡ Salicyle 5%, 10%
- Vitamin D3 và dẫn chất
- Goudron

NHẬN BIẾT BỆNH VẨY NẾN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÔNG Y

Bạch Tiêu Phong (Can Tính Bì Chỉ Dật): Xuất hiện nhiều ở vùng đầu, thường có mầu trắng tro hoặc đục như mỡ, lâu ngày gây nên hói (rụng) tóc.
- Phong Nhiệt Sang (Mai Côi Đường Chẩn): nốt ban chủ yếu ở vùng khô, có hình tròn, hơi trắng bạc, có thể tự khỏi.

- Hồ Niệu Thích (Mao Phát Hồng Đường Chẩn): vết ban phía trên có đầu nhỏ mầu trắng đục, không làm trắng da và không rướm máu.
- Vảy nến thể chấm giọt: cần phân biệt với sẩn giang mai II (cộm, màu đỏ sẫm, có viền Biệt), Á vảy nến thể giọt (vảy màu nâu, cậy bong ra thành một lớp như gắn xi) cần có phương pháp điều trị vảy nến
- Ở da đầu, da mặt trẻ em cần phân biệt với á sừng liên cầu.
- Ở các móng cần phân biệt với nấm móng.
- Ở nếp kẽ phân biệt với hăm kẽ, loét kẽ.
Thể Phong Nhiệt: Những nốt chấm xuất hiện nhiều, liên tục, lâu ngày to dần, mầu trắng đục, ngứa nhiều, mọc ở tay chân hoặc ở đầu, mặt, râu, gây hoại tử da sau đó có chấm xuất huyết. Kèm ngứa, sốt, khát, họng khô, đau, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng, 

Thể Phong Huyết Táo (gặp ở thể bệnh kéo dài): Nhiều nốt ban chẩn mới ít xuất hiện, những nốt cũ mầu hơi đỏ, ngứa, mặt da khô, lưỡi ít tân dịch, rêu lưỡi hơi vàng mà khô.
Thể Phong Hàn: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như đồng tiền hoặc từng mảng mầu hồng, trên mặt mụn có thể thối nát, phát bệnh quanh năm. Từ mùa đông đến mùa hè thường tự bớt hoặc giảm ẩn đi, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt.
Thể Thấp Nhiệt: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như nước trong lỗ rỉ ra, xuất hiện ở bên dưới bầu vú, vùng hội âm, khuỷ tay, hố mắt, vùng sinh dục, mầu da có mầu hồng xám, thường gom lại thành mảng lớn, vùng tổn thương chảy nước mầu trắng đục, hơi ngứa, miệng khô, không khát, cơ thể nóng, mệt mỏi, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi vàng hoặc có ngấn bệu.
Thể Huyết Nhiệt: Mới phát hoặc tái phát không lâu, vết sần nổi lên như dạng đồng tiền hoặc như bùn, thường nổi hạt nhỏ như ban chẩn, to nhỏ không đều, mầu hồng tươi, mọc nhiều ở tứ chi, có thể mọc ở vùng đầu và mặt trước, bề mặt của vết sần có mầu trắng đục, khô, vỡ nát có khi có rướm máu, kèm ngứa, tâm phiền, khát, táo bón, tiểu ít, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng
Thể Huyết Ứ: Vết ban mầu đỏ tối hoặc tím, to nhỏ không đều, bề mặt hơi lõm, khô trắng đục, không bong da, có một ít vết ban nhỏ mới xuất hiện kèm theo ngứa hoặc không ngứa, miệng khô, không muốn uống, lưỡi đỏ tối hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng nhạt hoặc hơi vàng.
Thể Huyết Hư: Cơ thể vốn suy yếu, bệnh kéo dài lâu ngày, da chuyển sang trắng bệch, nhiều vết ban có dạng giống như từng mảng hoặc phát ra toàn thân, mầu hồng nhạt ướt hoặc nhạt tối, bong da có những vết ban mới xuất hiện, ngứa, nặng hoặc nhẹ mầu da cũng không thay đổi, kèm chóng mặt, ít ngủ, ăn uống kém, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, ít tân dịch.
Mạch Xung Nhâm Không Điều Hoà: Da nổi nhiều nốt sẩn đặc biệt vào thời kỳ kinh nguyệt, có thai, sinh đẻ, đa số trước khi có kinh, đang có thai và trước khi sinh thì phát nặng hơn, có một ít sau khi có kinh và sau khi sinh mới phát. Toàn thân nổi lên những vết ban mọc thành đám, mầu đỏ tươi sau đó trở thành trắng đục, lúc mới phát có những vết xuất huyết. Toàn thân hơi ngứa,tâm phiền, miệng khô, đầu váng, lưng đau, lưỡi đỏ sẫm hoặc đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng.

BỊ VẨY NẾN NÊN ĂN NHỮNG GÌ

Bệnh vảy nến là 1 bệnh ngoài da phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Người bệnh cũng không ít mặc cảm khi mắc phải nó. Có rất phương pháp  bằng cách uống thuốc theo sự chỉ dẫn của bác sĩ thì cũng có phương pháp điều trị vảy nến bằng cách ăn uống. Cụ thể là những món ăn hằng ngày có thể giú cho người bệnh hạn chế không ít nhiều.


Người trị vảy nến nên ăn thêm các loại rau mát, bổ giảu vitamin A, B5, B2 có trong: cà chua, bí đỏ, cà rốt, mồng tơi, lá lốt, yauor. Các loại trái cây: bơ, đủ đủ, chuối, dưa hấu. Nên ăn các loại cá ít dị ứng, lành tính: cá rô, cá lóc, cá basa, cá hồi. Ngũ cốc nên ăn ngạo lức, bắp tươi, mè còn vỏ lụa, nên uống nước mía, bột sắn dây, nước cam, nước nhân trần, các loại nước ép trái cây.


Các món ăn bổ dưỡng: 
Canh khổ qua: khổ qua 2 trái 200g bỏ ruột, đậu phụ non 30g, nấm mèo 20g, miến 20g, thêm gia vị nhồi vào trái đem nấu canh ăn. Công dụng: giải huyết, mát gan, tăng miễn dịch, giải độc.



- Canh khoai tím: khoai tím 20g, tôm luộc 50g bằm nhỏ, hành ngò gia vị vừa đủ nấu ăn. Công dụng: nhuận phế, bổ âm, dưỡng huyết, mát gan, giải độc.
- Canh bí đao: bí đao 200g, chân gà 2 cặp, làm sạch xắc khúc, hành ngò thêm gia vị nấu canh ăn. Công dụng: sinh phế, mát gan, lợi tiểu.
- Rau díp sốt cà chua: rau díp 100g, dưa leo 100g thái lát, cà chua 2 trái, thịt heo 50g, bằng cách thịt bằm gia vị, cà chua làm nước sốt chấm rau ăn.
- Canh atiso: bông tươi atiso 200g, thịt vịt 50g, gia vị vừa đủ nấu nhừ ăn. Công dụng: bổ huyết, mát gan, nhuận phế, lọc máu, lợi tiểu.

- Chè đậu xanh: đậu xanh 150g, nấm mèo 20g, lá nha đam 50g tước vỏ cứng, đường cát vừa đủ nấu chè ăn. Công dụng: dưỡng âm, thanh nhiệt, giải độc.
- Canh rau má: rau má 200g, thịt heo nạc băm 20g nấu canh ăn.
- Canh chua cá kèo: giá đậu 100g, dứa 50g, cà chua 30g, cá kèo làm sạch 100g, me, gia vị vừa đủ nấu ăn.

NHỮNG LƯU Ý VỚI NGƯỜI BỊ VẨY NẾN


Người mắc bênh vảy nến thường hay mặc cảm về mặt thẩm mỹ vì bệnh có nhiều lớp vảy trắng xuất hiện. Bởi thế người bệnh nên cần biết 1 số điều cơ bản trong việc . Biết cách chăm sóc vùng da bị vảy nến bằng các phương pháp hiệu quả nhất để đẩy lùi căn bệnh.
1. Điều trị bệnh vẩy nến bằng thuốc
Bệnh vảy nến chủ yếu tập trung ở da đầu, đùi, cánh tay, khuỷu tay, chân, lưng…Dấu hiệu đặc trưng của bệnh chính là các vết vẩy nến trở nên sần sùi, đóng vảy, khô lại và bong ra từng mảng. Do đó để điều trị làm giảm bệnh vẩy nến hiệu quả nhất được nhiều bác sĩ khuyên dùng là ngâm mình hoặc phần da bị vẩy nến trong nước ấm từ 10 đến 15 phút, sau đó bôi thuốc dưỡng ẩm làm mềm da để giúp da mềm và ẩm hơn.
Điều trị vảy nến tại chỗ có thể bôi các loại thuốc như thuốc mỡ Axit Salicylé 2%, 3%, 5% để làm bong vẩy, bạt sừng. Mỡ Corticoid như Eumovate, Diprosalic, …cũng có tác dụng tương tự chống viêm rất tốt, thương tổn mất rất nhanh. Tuy nhiên không nên lạm dụng bôi nhiều và dài ngày vì sẽ gây biến chứng làm bệnh nặng thêm. Dùng kem chứa thành phần steroid cũng có hiệu quả, tuy nhiên vì loại này cũng có thể gây hại đến da nên cần được hỏi bác sĩ tư vấn xem có thích hợp với loại da của bạn không. Ngoài ra khi điều trị tại chỗ có thể sử dụng thuốc mỡ có Vitamin A axit như: Differin, Isotrex, Erylick...để bình thường hóa quá trình sừng hóa của da.
Các loại thuốc mỡ có chứa thành phần nhựa than đá và dầu gội có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh nhưng thuốc này dễ gây tổn thương vùng da xung quanh, bạn cần phải hỏi ý kiến của bác sĩ.
Điều trị toàn thân nên dùng các loại axit vitamin A như Soritane, Tigasone, Methotrexate, Cyclosporin....cũng có tác dụng nhanh trong việc điều trị các triệu chứng của bệnh. Tuy nhiên những loại thuốc này thường đem lại một số tác dụng phụ vô cùng nguy hiểm như gây quái thai, hạ bạch cầu, rối loạn chức năng gan, thận…Do đó chỉ được sử dụng các loại thuốc này khi được bác sĩ kê đơn hoặc được bác sĩ chỉ định. Ngoài ra trong quá trình sử dụng các loại thuốc này để điều trị bệnh vẩy nến cần phải theo dõi nghiêm ngặt. Khi điều trị vẩy nến toàn thân, bạn cũng có thể sử dụng Corticoid dạng viên uống như Prednisolone, Medrol... hoặc tiêm tĩnh mạch với các loại thuốc như Methylprednisolone. Các loại thuốc này đều có tác dụng tốt, nhanh. Nhưng chỉ nên áp dụng cho một số trường hợp đặc biệt trong một thời gian ngắn và phải được chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Nếu lạm dụng dùng liều cao kéo dài, bệnh sẽ tái phát nặng và có thể gây nhiều biến chứng trầm trọng.
Ngoài các phương pháp điều trị bằng thuốc kháng sinh, bệnh vẩy nến có thể được điều trị bằng phương pháp khác là dùng tia tử ngoại, tia laser mềm . Các phương pháp này đem lại kết quả rất khả quan và kéo dài thời gian ổn định bệnh.


2. Lưu ý khi chăm sóc da bị bệnh vẩy nến


Tia cực tím có khả năng gây thương tổn cho da khi bạn bị vẩy nến. Nguyên nhân là do lúc này da bạn đang bị rối loạn điều tiết. Vì vậy cần tránh tiếp xúc với tia cực tìm càng nhiều càng tốt. Ngoài ra để hạn chế bệnh vẩy nến phát triển và lan rộng bạn cần tránh làm tổn thương da như bị côn trùng cắn, nhiễm vi khuẩn và vi rút, cháy nắng, stress, uống rượu và tăng cân

Nếu da bị tổn thương mà lại không phản ứng lại với bất kỳ cách điều trị nào, thì cần phải kiểm tra lại những thương tổn dưới da.


3. Chế độ dinh dưỡng cho người bị vảy nến
Chế độ dinh dưỡng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều trị bất cứ căn bệnh nào đặc biệt là bệnh vẩy nến. Bên cạnh đó hiện nay có khuynh hướng trở về với dinh dưỡng liệu pháp nhằm vận dụng hoạt chất dễ dung nạp trong thực phẩm để thay thế các chất dễ gây hại trong dược phẩm. Do đó lựa chọn thức ăn phù hợp với người bệnh là phương pháp hiệu quả mà không gây hại, tác dụng phụ cho người bệnh.

Những loại thực phẩm tốt cho quá trình điều trị bệnh vẩy nến là các loại thực phẩm chứa nhiều omega-3 như cá biển, nghêu sò, ốc, rau quả có nhiều beta-carotin như trái bơ, cà rốt, xoài, mè đen…Ngược lại nên hạn chế các loại thực phẩm chứa nhiều arachidon như thịt, trứng sữa, rượu bia…

ĐIỀU TRỊ VẨY NẾN TỐT NHẤT HIỆN NAY

Bệnh vảy nến là bệnh da đỏ vẩy lành tính thường gặp. Tuy nhiên nhiều người vẫn hay nhầm tưởng với bệnh nấm ngoài da nên có những phương pháp  không phù hơp với dứt khoát. Làm cho bệnh không ít tiến triển hoặc bị lại.


Lúc đầu bệnh biểu hiện không rõ ở 50 % trư­ờng hợp. Bệnh nhân cảm thấy đau đầu, sốt nhẹ, mệt mỏi. Tổn thư­ơng tiên phát thư­ờng hay ở nửa phía trên thân ng­ười ngực, lưng bụng, cánh, cẳng tay, cổ. Có thể bị ở mặt, đầu. Tổn thư­ơng là các đám tròn hay hình oval có giới hạn rõ, màu đỏ nhạt giới hạn rõ. Đám tổn thương có đ­ường kính 2-5 cm hoặc có khi rộng hơn. Tổn thư­ơng kéo dài 5-15 ngày. Có thể kéo dài 2 tháng. Tổn thư­ơng (thứ phát) tràn lan bắt đầu biểu hiện sau 2-3 ngày hoặc đến 10 ngày. Các tổn thư­ơng mới kế tiếp phát triển vài tuần sau. Hình thái cổ điển tổn thư­ơng bao gồm: ban mề đay xung quanh, mầu hồng nhẹ, vảy khô xám phủ trên. Trung tâm tổn thư­ơng teo, lõm, da nhăn mầu nâu. Sau một thời gian tổn th­ương đặc tr­ưng bởi các đư­ờng ly tâm song song như­ x­ương s­ườn của chúa.



Tổn thương thông thường ở thân mình, cổ, còn thấy ở cánh tay và cẳng chân, ở chỗ này thư­ờng dai dẳng và có ở mặt tổn thương đặc biệt ở trẻ em. Tổn thương ở cánh tay và cẳng chân khoảng 6-12 %. Tổn thương ở lòng bàn tay cũng có thể có, có hình ảnh đỏ da bong vẩy có mụn nước nhỏ. Tổn thương ở bán niêm mạc là hiếm như­ng cũng phải chú ý. Tổn thương đỏ da bong vẩy hoặc điểm xuất huyết hoặc phỏng nước cũng có gặp. Có cả tổn thương ở âm đạo.


Triệu chứng chung khác có thể quan sát thấy nhưng nhẹ, sẩn ngứa nhẹ, hoặc là có thể do điều trị không đúng. Sốt rét nhẹ, mệt mỏi, hạch limphô ở nách có thể sưng.
Tổn thương da thông thường biến mất sau 3-6 tuần, nhưng một vài tổn thương có thể nhanh hơn 1-2 tuần. Tổn thương ở phía dưới, có thể kéo dài hơn. Có thể để lại tăng hay giảm sắc tố. Nhưng thông thường không để lại dấu vết gì. Tổn thương tái phát sau vài tháng hoặc vài năm sau có thể thấy 2% các bệnh nhân. Bệnh  có thể ở dạng không điển hình, biến dạng khoảng 20% các bệnh nhân. Các tổn thương thứ phát có thể thành đám lớn, nó có thể tràn lan hay thậm chí chỉ có vài tổn thương. Cùng lúc ấy có thể có tổn thương ở đầu ngón tay. Đặc biệt ở trẻ em tổn thương có thể ở dạng sẩn mày đay ở giai đoạn sớm và có vảy phủ trên, hoặc tổn thương ở trẻ em dạng mày đay điển hình với điểm xuất huyết, tổn thương xuất huyết cấp tính cũng có ở người lớn. Sẩn nước, mụn nước và mủ cũng gặp. Tổn thương dạng sẩn hay gặp ở châu Phi hơn châu Âu. Sẩn li chen hay gặp ở rìa tổn thương.

Vẩy phấn vằn vèo và có bờ viền Vidal (Pityriasia Circinata et marginata of Vidal), một đôi khi thấy hình thái này ở người lớn. Tổn thương ít nhưng rải rác rộng, thông thường nó khu trú ở một vùng của cơ thể, đặc biệt ở nách và bẹn. Nó kéo dài vài tháng, hình thái này là hình thái tràn lan.

PHÒNG BỆNH VẨY NẾN VÀO MÙA LŨ

Sau mưa lũ, do điều kiện vệ sinh kém, môi trường, nguồn nước bị ô nhiễm và chứa đựng nhiều vi khuẩn gây bệnh, trong đó phải kể đến các vi khuẩn gây bệnh về da. Vậy những bệnh về da thường gặp trong mùa mưa lũ là gì? Có những biện pháp hiệu quả nào để điều trị và phòng bệnh?
Các bệnh nhiễm khuẩn da

Chốc lở: Do điều kiện vệ sinh kém, ăn uống thiếu chất, lao động dọn dẹp vệ sinh sau lũ dễ bị tổn thương da, tạo điều kiện cho vi khuẩn tấn công. Thương tổn là những mụn nước, mụn mủ trên da, tập trung ở vùng hở, tay chân. Khi dập vỡ tạo vết chợt loét nông, trên có vảy màu vàng hoặc màu nâu bẩn, xung quanh có viền vảy hoặc quầng đỏ. Khi bị cần phải lau rửa bằng cồn sát khuẩn hoặc betadin. Bôi thuốc sát khuẩn, xanh methylen, castellani. Khi thương tổn đã khô chuyển sang bôi thuốc mỡ kháng sinh như tetraxyclin, foban, bocidate, fucidin. Uống thuốc kháng sinh để bệnh nhanh khỏi và tránh những biến chứng nguy hiểm như viêm cầu thận 

Viêm nang lông: Do thiếu nước sạch, tắm gội vi khuẩn phát triển ở những nang lông như đầu, lông nách, lông sinh dục, râu, lông mày tạo thành những mụn mủ nhỏ ở nang lông rất ngứa, gãi nhiều chảy nước, dịch, ướt tóc, gọi là viêm nang lông chàm hóa rất khó chữa. Khi bị bệnh cũng phải sát khuẩn bằng cồn 70 độ, betadin, bôi mỡ kháng sinh và uống kháng sinh kháng tụ cầu như oxaxylin, bristopen, cloxylan, hạn chế gãi, chải đầu nhẹ nhàng, không làm tổn thương da đầu. 
Bệnh viêm kẽ do vi khuẩn (Erythrasma): hay gặp ở người béo phì, vị trí: hai bẹn, nách, cổ và nếp lằn vú ở phụ nữ. Cũng do thiếu nước sạch vệ sinh, mồ hôi ứ đọng, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, thương tổn là những đám da màu đỏ, bờ rõ, có vảy mỏng, hầu như không ngứa, trừ phi bị ở bẹn có cảm giác châm chích khó chịu. Căn nguyên do loại vi khuẩn có tên gọi Corynebacterium minutissimum. Chẩn đoán phân biệt với nấm da bằng cách chiếu đèn huỳnh quang thấy xuất hiện màu đỏ san hô, phân biệt với màu vàng huỳnh quang của nấm. Điều trị bằng bôi dung dịch eryfluid và uống erythromycin 250mg 4 lần 1 ngày.

Bệnh tiêu sừng lõm lòng bàn chân (pitted keratolysis): còn gọi là bàn chân rỗ, bàn chân hà. Tổn thương là những vết lõm đường kính từ 1-3mm tập trung thành đám ở lòng bàn chân hay thấy ở gót trước và gót sau không đau không ngứa. Căn nguyên do vi khuẩn có tên gọi Micrococcus Sedentarius. Chẩn đoán không khó, chỉ cần dựa vào hình ảnh bàn chân rỗ. Điều trị ngâm rửa nước muối sau đó bôi mỡ kháng sinh erythromycin hoặc clindamycin và mỡ whitfeld xen kẽ, bệnh sẽ khỏi hoàn toàn 

Bệnh da do ký sinh trùng

Bệnh do ấu trùng xâm nhập vào da: Còn gọi là ấu trùng di trú trên da, bệnh ít thấy ở nước ta nhưng cũng không có nghĩa là không có mà do khả năng phát hiện bệnh còn hạn chế. Do trứng của giun sán tồn tại trong đất cát nở thành ấu trùng và xâm nhập vào da người, di trú trên da với tốc độ vài centimet một ngày. Chúng di chuyển ngay dưới lớp sừng tạo thành đường ngoằn ngoèo hơi nổi cao, rộng khoảng 2-3mm. Số lượng tổn thương phụ thuộc vào số lượng ấu trùng xâm nhập. Vị trí hay gặp: cẳng chân, mông, quanh hậu môn, tay. Triệu chứng cơ năng rất ngứa, ấu trùng tồn tại trên da trung bình từ 2-8 tuần. Hiếm khi trên 2 năm. Phòng bệnh: tránh tiếp xúc trực tiếp với đất cát chứa phân. Điều trị tại chỗ: bôi mỡ kháng ký sinh trùng albendazole. Uống thiabendazole 50mg/1kg cân nặng trong ngày, từ 2-5 ngày.

Ghẻ: Trong điều kiện vê sinh kém, ghẻ cũng sinh sôi nảy nở và lây truyền rất nhanh. Do tiếp xúc trực tiếp giữa người bị ghẻ với người lành. Căn nguyên do ký sinh trùng có tên gọi Sarcoptes Scabies xâm nhập vào da. Thương tổn là những mụn nước, rãnh ghẻ. Vị trí hay gặp: kẽ các ngón tay, nếp lằn chỉ cổ tay, cạp quần, vùng bụng, đùi non, mông bẹn, sinh dục, nếp lằn vú, nách. Hiếm khi thấy ghẻ ở 1/3 trên lưng, mặt. Triệu chứng cơ năng: rất ngứa. Nếu không được phát hiện chữa kịp thời, ghẻ sẽ có biến chứng nhiễm trùng thành những mụn mủ eczema hóa rất khó chữa trị và lây lan ra cộng đồng rất nhanh. Điều trị: vệ sinh cá nhân và bôi thuốc chữa ghẻ, bôi một trong những loại thuốc sau: DEP, eurax, ascabiol. Điều trị cho cả nhà, những người có biểu hiện ngứa ghẻ. Tẩy uế quần áo ga gối bằng cách luộc hoặc phơi 3-4 nắng.

Nước ăn chân: Thực chất là bị nhiễm nấm Candida và Blastomycet. Do chân tay ngâm trong nước nhiều, tế bào sừng bị chết và môi trường ẩm ướt làm cho nấm xâm nhập và phát triển. Thương tổn hay gặp ở các kẽ ngón chân 4, 5, kẽ ngón tay 3, 4. Lúc đầu là những đám da chết mục màu trắng, ngứa nhiều, gãi lột lớp da chết để lại nền da đỏ hồng ẩm ướt, đau rát, ngứa vẫn tiếp tục làm bệnh nhân gãi và rất đau. Nếu không được điều trị, vết chợt loét sâu và lan rộng, nhiễm trùng sưng đau, đi lại khó khăn. Bệnh cũng hay gặp ở người làm nghề quét dọn, công nhân vệ sinh, người nội trợ, giúp việc, thường xuyên phải tiếp xúc với nước, người có bệnh đái tháo đường cũng thường bị nhiễm loại nấm trên. Khi bị bệnh cần hạn chế lội nước, lau chân khô trước khi đi giày dép và điều quan trọng là phải dùng thuốc chống nấm như: castellani, calcream, nizoral, dezor; rửa chân tay bằng xà phòng diệt nấm SAStid hoặc nước quả chanh để tránh tái nhiễm.