Thứ Ba, 25 tháng 3, 2014

NHỮNG CÁCH TRUNG SỐNG VỚI BỆNH VẨY NẾN

Vẩy nến là một bệnh ngoài da thường gặp, chiếm khoảng 6% các bệnh nhân khám da liễu. Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng gây tác động xấu đến thẩm mĩ, tâm lí và những hệ lụy khác. Nam và nữ có khả năng mắc bệnh ngang nhau, người lớn gặp nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, tùy từng người. Cách xác định tư tưởng hòa bình và sống chung với bệnh là vô cùng quan trọng.

Bệnh vẩy nến biểu hiện ra sao?

Bệnh vẩy nến biểu hiện trên da bằng các mảng đỏ có giới hạn rõ và đóng vảy trắng đục. Khi đè lên thì màu đỏ này biến mất. Các mảng đỏ có ranh giới rất rõ với vùng da lành bên cạnh, kích thước từ vài cm đến hàng chục cm (vẩy nến mảng) hoặc chỉ là các thương tổn màu đỏ, hơi gồ lên mặt da kích thước chừng vài mm, khá đồng đều (vẩy nến giọt). Trong trường hợp nặng, bệnh lan rộng toàn thân (vẩy nến toàn thân).

Khi cạo, gãi thì vẩy bị rớt ra một cách dễ dàng giống như sáp đèn cầy hoặc có khi là mảng lớn. Các thương tổn này được phân bổ một cách đối xứng ở rìa chân tóc, da đầu (trông giống như gầu), cùi chỏ, đầu gối, vùng xương cụt, bộ phận sinh dục hoặc các nếp gấp.
Tự tin với bệnh vẩy nến

Bệnh không đau, có thể có ngứa với mức độ ít nhiều tùy theo từng người. Móng có thể bị hư, có các chất bột vụn đội bờ tự do lên và bị ăn khuyết dần hoặc phiến móng trở nên xù xì, lỗ chỗ như bị kim đâm vào.
Trường hợp nặng, bệnh có thể gây sưng, đau và biến dạng các khớp làm giới hạn vận động. Da có thể bị nổi nhiều mụn mủ ở bàn tay, bàn chân hoặc rải rác khắp người. Lúc này bệnh nhân thường bị sốt, mệt mỏi hoặc căng đau vùng da bị bệnh. Bệnh cũng có thể làm cho da cả người bị đỏ luôn không hồi phục (đỏ da toàn thân)
Các dạng vẩy nến

Nguyên nhân gây bệnh là gì?

Bất thường miễn dịch được cho là nguyên nhân chính gây ra bệnh vẩy nến. Thêm vào đó, yếu tố di truyền, các xáo trộn về sinh hóa, chấn thương tâm lý, thuốc... cũng ảnh hưởng trên sự khởi phát, tái phát hoặc làm bệnh nặng thêm. Những yếu tố làm bệnh nặng hơn là nhiễm liên cầu trùng, nhiễm siêu vi trùng, căng thẳng, chấn thương tâm lý... Cần nhớ là bệnh vẩy nến không lây lan cho người khác nên không cần cách ly hay xa lánh người bệnh.

Bệnh có di truyền không?

Bệnh vẩy nến có tính di truyền, điều này đã được xác định rõ ràng trong 30-40% các trường hợp. Nếu trong gia đình chỉ có hoặc cha hoặc mẹ bị bệnh thì khoảng 8% các con sẽ mắc bệnh, còn nếu cả cha và mẹ cùng bị vẩy nến thì khả năng mắc bệnh của các con là 41%.

Bệnh vẩy nến được điều trị như thế nào?

Hiện nay, bệnh chưa có thuốc điều trị hết hẳn. Các thuốc điều trị có thể giống hoặc khác nhau tùy từng bệnh nhân, điều kiện kinh tế, mức độ nặng nhẹ và yếu tố tâm lí. Có 3 phương pháp chính điều trị bệnh: thuốc uống, thuốc bôi ngoài da và quang hóa liệu pháp.

Thuốc uống

Bác sĩ thường kê toa các thuốc giúp làm giảm triệu chứng ngứa, lo âu, thuốc nâng tổng trạng... Thuốc đặc trị sẽ được cân nhắc cho các trường hợp nặng (biến chứng khớp, vẩy nến mủ, đỏ da toàn thân). Những thuốc đặc trị này thường được kê đơn bởi các bác sĩ đã có kinh nghiệm trong việc sử dụng, cho đối tượng bệnh nhân nằm viện với sự theo dõi sát sao của nhân viên y tế. Các thuốc này bao gồm:

- Thuốc ức chế sự hình thành quá trình miễn dịch như cyclosporin

- Thuốc ức chế sự tân sinh như methotrexate

- Thuốc chứa chất vitamine A acide (Tigason, Soriatane) là các thuốc đặc trị, được dùng cho trường hợp vẩy nến kháng trị hoặc vẩy nến mủ. Thuốc này cho kết quả tốt nhưng đắt tiền và nhiều tác dụng phụ (nghiêm trọng nhất là gây quái thai cho phụ nữ nếu như mang thai trong giai đoạn dùng thuốc).

- Các chế phẩm sinh học chứa chất alefacept và etanercept cũng có tác dụng tốt trên bệnh vẩy nến.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét